✍️ Chuyên mục: Ngoại nhi - bệnh lý lồng ngực nhi khoa
Tham vấn y khoa: Phẫu thuật tim mạch lồng ngực trẻ em
Tóm tắt: Dị tật bẩm sinh ở phổi là nhóm các bất thường trong quá trình phát triển phế quản phổi, với tỷ lệ mắc từ 1/2.000 đến 1/12.000 ca sinh. Bốn loại chính bao gồm: Dị tật đường thở phổi bẩm sinh (CPAM - phổ biến nhất, chiếm 60%), dị tật phổi biệt lập (BPS), khí phế thũng thùy bẩm sinh (CLE) và u nang phế quản. Hầu hết được phát hiện qua siêu âm trước sinh và không có triệu chứng khi sinh (85-90%). Phẫu thuật cắt bỏ (thường là cắt thùy phổi) được chỉ định khẩn cấp nếu trẻ suy hô hấp do khối u chèn ép, hoặc mổ chương trình ở trẻ không triệu chứng để ngăn ngừa biến chứng nhiễm trùng, tràn khí màng phổi hoặc ác tính hóa.
Có bốn dạng dị tật bẩm sinh hệ phế quản phổi chính thường gặp trên lâm sàng. Sự hình thành của các dị tật này bắt nguồn từ sự phát triển bất thường của phổi trong thai kỳ, bắt đầu sớm nhất từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 8.
| Loại Dị tật | Đặc điểm giải phẫu và Sinh lý bệnh | Tần suất / Vị trí |
|---|---|---|
| Dị tật đường thở phổi bẩm sinh (CPAM) | Tổn thương phổi dạng nang lành tính, gồm nang lớn (>5mm) hoặc nang nhỏ (<5mm). Không chứa phế nang bình thường dẫn đến chức năng trao đổi khí kém. | Chiếm 60% tổng số ca. Thường nằm ở một trong các thùy dưới (75%). |
| Dị tật phổi biệt lập (BPS) | Khối mô phổi không thông thương với đường thở tự nhiên và nhận máu nuôi từ động mạch hệ thống thay vì động mạch phổi. | - Trong thùy phổi (75%): Dẫn lưu tĩnh mạch phổi. - Ngoài thùy phổi (25%): Dẫn lưu động/tĩnh mạch hệ thống. |
| Khí phế thũng thùy bẩm sinh (CLE) | Tắc nghẽn phế quản (giải phẫu hoặc chức năng) làm khí đi vào tự do nhưng khó thoát ra, dẫn đến tình trạng ứ khí và phồng thùy phổi quá mức. | Thường ảnh hưởng đến thùy trên bên trái. Ít được chẩn đoán trước sinh. |
| U nang phế quản | Các u nang chứa sụn, lót bởi biểu mô trụ tiết nhầy có lông chuyển, thường lấp đầy bởi dịch tiết nhầy. | Thường nằm ở khu vực trung thất. |
Khoảng 85% đến 90% các trường hợp (chủ yếu là CPAM, BPS, u nang phế quản) được chẩn đoán qua siêu âm trước sinh và hoàn toàn không có triệu chứng sau khi chào đời. Chỉ 10% đến 15% trẻ có biểu hiện suy hô hấp sơ sinh hoặc viêm phổi khi lớn lên.
Đối với các dị tật lớn hoặc có triệu chứng, khám thực thể có thể ghi nhận:
| Tình trạng | Mục tiêu và thời điểm phẫu thuật |
|---|---|
| Có triệu chứng (suy hô hấp) | Phẫu thuật cấp cứu/bán cấp: Loại bỏ khối u chiếm chỗ nhằm giải phóng chèn ép trung thất, cải thiện chức năng hô hấp và tim mạch. |
| Không có triệu chứng | Phẫu thuật theo chương trình (mổ phiên): Việc cắt bỏ sớm trong giai đoạn phế nang đang phát triển giúp phổi có không gian phát triển bù trừ. Đồng thời ngăn ngừa các biến chứng muộn như: nhiễm trùng, tràn khí màng phổi, suy tim hoặc ác tính hóa. |
| Trì hoãn phẫu thuật | Được xem xét trong các trường hợp: CPAM đa ổ (việc cắt nhiều thùy ở trẻ không triệu chứng có thể gây suy giảm chức năng phổi), bệnh nhân lớn tuổi có tổn thương nhỏ đã suy giảm chức năng, hoặc bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật quá cao so với lợi ích. |
Ở trẻ có triệu chứng, cần chuẩn bị sẵn máu dự phòng cho khả năng phải mở lồng ngực khẩn cấp. Đối với bệnh nhân có tiền sử nhiễm trùng hô hấp tái phát, cần tiến hành cấy đờm, xét nghiệm da tuberculin và sử dụng kháng sinh điều trị dứt điểm tình trạng nhiễm trùng trước khi mổ. Kháng sinh dự phòng trước mổ (như Cefazolin) được khuyến cáo sử dụng vì cắt thùy phổi thuộc nhóm phẫu thuật sạch - nhiễm. Phẫu thuật yêu cầu cơ sở y tế có máy thở một bên phổi (thông khí chọn lọc), thiết bị phẫu thuật nội soi lồng ngực và đơn vị hồi sức tích cực nhi khoa).
Kết quả dài hạn phụ thuộc vào thể tích phổi bị cắt bỏ. Nhờ đặc tính phát triển bù trừ của nhu mô phổi ở trẻ nhỏ, việc phẫu thuật cắt bỏ tổn thương sớm thường giúp cải thiện và duy trì chức năng phổi ở mức bình thường khi trẻ lớn lên.
Tác giả: BS. Trần Đức Tâm - chuyên khoa ngoại nhi
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Các phẫu thuật viên nhi khoa có nhiệm vụ khám, phát hiện và điều trị các bệnh lý cần phải phẫu thuật cho đối tượng trẻ em. Website mong muốn cung cấp một phần nhỏ kiến thức vê lĩnh vực ngoại nhi cho bố mẹ và người chăm sóc trẻ, cũng như góp thêm ý kiến cho các nhân viên y tế thuộc chuyên ngành khác....