✍️ Chuyên mục: Ngoại Nhi - Bệnh lý Gan Mật trẻ sơ sinh
Tham vấn y khoa: Bác sĩ Trần Đức Tâm - Trung tâm ngoại tổng hợp - Bệnh viện Nhi Trung ương
Tóm tắt: Teo đường mật bẩm sinh (Biliary Atresia - BA) là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh gan giai đoạn cuối ở trẻ sơ sinh, với tỷ lệ mắc 0,73/10.000 - 1/10.000 ca sinh sống. Dấu hiệu cảnh báo đặc trưng nhất là vàng da kéo dài trên 2 tuần kết hợp với phân bạc màu (phân trắng/không sắc tố) ở trẻ đủ tháng. Chẩn đoán xác định dựa trên chụp đường mật trong mổ. Phương pháp điều trị tối ưu là phẫu thuật Kasai (nối khoảng cửa rốn gan với hỗng tràng (ruột)). Phẫu thuật cần được thực hiện lý tưởng nhất trước 45 ngày tuổi để đạt hiệu quả dẫn lưu mật và tránh chỉ định ghép gan.
Teo đường mật bẩm sinh (BA) phổ biến hơn ở các quốc gia khu vực Châu Á - Thái Bình Dương so với các khu vực khác trên thế giới. Dựa trên nguyên nhân, bệnh được chia làm hai nhóm chính:
| Phân loại | Vị trí tổn thương giải phẫu | Tỷ lệ gặp trên lâm sàng |
|---|---|---|
| Loại I | Tắc nghẽn tại ống mật chủ (Loại xa) | ~ 12% |
| Loại II | Tắc nghẽn tại ống gan chung (Loại gần) | ~ 2% |
| Loại III | Tắc nghẽn liên quan trực tiếp đến vùng cửa gan | Phổ biến nhất: ~ 85% - 90% |
Tiền sử bệnh lý điển hình thường bắt gặp ở một trẻ sơ sinh sinh đủ tháng, cân nặng đạt chuẩn nhưng có biểu hiện:
Chẩn đoán teo đường mật cần loại trừ nhóm nguyên nhân nội khoa/di truyền sau:
Không có một xét nghiệm nào đủ tiêu chuẩn chẩn đoán xác định ngoại trừ việc chụp đường mật trực tiếp. Các bước cận lâm sàng được thực hiện theo hệ thống:
Teo đường mật bẩm sinh cần chỉ định phẫu thuật khẩn trương ngay khi chẩn đoán hướng tới bệnh lý này. Các bác sĩ thường sẽ phải chụp đường mật trong mổ để xác định chính xác tình trạng bệnh. Khi xác định đúng là teo đường mật bẩm sinh, phẫu thuật viên sẽ tiến hành phương pháp Kasai. Có thể phẫu thuật nội soi, nhưng nhìn chung, phẫu thuật theo đường mổ mở đem lại tỷ lệ thành công cao hơn nội soi theo các nghiên cứu ngẫu nhiên đã được công bố.
Loại bỏ phần đường mật bị teo tạo thành dải xơ ở vùng rốn gan và tái tạo đường dẫn lưu mật mới bằng miệng nối Roux-en-Y:
| Phân loại | Mô tả chi tiết biến chứng |
|---|---|
| Ngắn hạn | Tổn thương mạch máu (Động mạch gan/Tĩnh mạch cửa); rò rỉ bạch huyết hoặc rò rỉ mật tại miệng nối. |
| Thường gặp nhất | Nhiễm trùng đường mật (Cholangitis): Xảy ra bất kỳ lúc nào sau mổ, biểu hiện sốt, đau bụng, tăng bạch cầu và men gan (Cần can thiệp kháng sinh tích cực). |
| Dài hạn (Do kém hấp thu) | Suy dinh dưỡng nặng, chậm phát triển hệ thần kinh trung ương, gãy xương bệnh lý do thiếu Vitamin D (Vitamin tan trong dầu). |
| Thất bại dẫn lưu | Tiến triển tăng áp lực tĩnh mạch cửa và suy gan (Cổ trướng, lách to, xuất huyết giãn tĩnh mạch thực quản). |
Mức độ thành công của phẫu thuật Kasai được đánh giá bằng khả năng thiết lập lại dòng chảy dịch mật vào ruột. Kết cục lâm sàng thường chia đều thành 3 nhóm:
*Lưu ý: Đối với 2/3 nhóm bệnh nhân có tiên lượng xấu (thất bại ngay hoặc suy gan tiến triển), ghép gan là lựa chọn y khoa duy nhất để duy trì sự sống. Các yếu tố dự báo thành công phẫu thuật cao bao gồm: Thời điểm phẫu thuật dưới 45 ngày tuổi, không kèm hội chứng dị tật lách, và mức độ xơ gan trên sinh thiết tại thời điểm phẫu thuật thấp.
Tác giả: BS. Trần Đức Tâm - chuyên khoa ngoại nhi
Những tin cũ hơn