Tóm tắt lâm sàng:
Bệnh Hirschsprung (HD), hay bệnh phình đại tràng bẩm sinh, là một bất thường bẩm sinh đặc trưng bởi sự vắng mặt của các hạch thần kinh trong đám rối cơ ruột và dưới niêm mạc đoạn ruột xa. Bệnh lý này lan truyền liên tục từ trực tràng đoạn xa ngược lên phía trên đại tràng.
Vị trí tổn thương thường gặp nhất là trực tràng hoặc đại tràng sigma. Tùy từng trường hợp, bệnh Hirschsprung có thể lan rộng lên các đoạn cao hơn, với 5-10% bệnh nhân mắc thể toàn bộ đại tràng vô hạch. Việc thiếu hụt tế bào thần kinh khiến đoạn ruột bị ảnh hưởng mất hoàn toàn khả năng nhu động, gây ra hội chứng tắc nghẽn ruột chức năng.
Tỷ lệ mắc bệnh phình đại tràng bẩm sinh trong quần thể là khoảng 1/5000 ca sinh sống. Trẻ em sinh ra trong gia đình có cha mẹ mắc bệnh thường có xu hướng tiến triển bệnh cảnh nghiêm trọng hơn.
Biểu hiện lâm sàng điển hình và thường gặp nhất (90% các ca bệnh) là chậm hoặc không tự thải phân su trong vòng 24 đến 48 giờ đầu đời. Khoảng 50-90% trẻ sơ sinh sẽ tiến triển các triệu chứng của tắc ruột non đoạn xa bao gồm:
Trẻ lớn mắc bệnh Hirschsprung thường là những trường hợp chỉ tổn thương một đoạn ruột ngắn. Biểu hiện đặc trưng bao gồm:
Viêm ruột là biến chứng xuất hiện ở khoảng 10% bệnh nhân, đặc trưng bởi sốt, chướng bụng và tiêu chảy. Đây có thể là tình trạng mạn tính hoặc đợt cấp tính đe dọa tính mạng và là nguyên nhân tử vong phổ biến nhất ở trẻ em mắc bệnh phình đại tràng bẩm sinh. Bệnh nhân có đoạn ruột vô hạch dài hoặc mắc kèm Hội chứng Down (Trisomy 21) có nguy cơ phát triển HAEC cao hơn.
Khám lâm sàng thường ghi nhận tình trạng chướng bụng, phù hợp với bệnh cảnh tắc ruột đoạn xa. Động tác thăm khám trực tràng bằng tay có thể giải phóng một lượng lớn khí và phân ứ đọng.
Cần phân biệt bệnh Hirschsprung với các tình trạng sau:
Chẩn đoán xác định bệnh phình đại tràng bẩm sinh dựa trên kết quả giải phẫu bệnh của mẫu sinh thiết trực tràng.
Vị trí lấy mẫu sinh thiết phải cách đường răng cưa (dentate line) ít nhất 1-1,5 cm (tùy thuộc độ tuổi). Nếu sinh thiết quá thấp sẽ lấy vào vùng biểu mô chuyển tiếp hậu môn (nơi sinh lý đã có rất ít tế bào hạch), dẫn đến kết quả dương tính giả. Dấu hiệu mô bệnh học xác định bệnh Hirschsprung bao gồm:
Trước khi can thiệp, bệnh nhân cần được hồi sức dịch điện giải, thụt tháo rửa trực tràng liên tục để giảm áp và duy trì lưu thông ruột. Nếu có dấu hiệu viêm ruột, cần sử dụng kháng sinh phổ rộng đường tĩnh mạch.
Ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh, không có viêm ruột, phẫu thuật có thể được trì hoãn có kế hoạch nếu việc thụt rửa trực tràng đạt hiệu quả tốt. Các trường hợp này thường áp dụng phẫu thuật một thì. Tuy nhiên, trẻ có tình trạng viêm ruột, phát hiện muộn gây giãn đại tràng nghiêm trọng, hoặc suy dinh dưỡng có thể cần phẫu thuật hai thì (mở thông đại tràng ra da làm hậu môn nhân tạo tạm thời trước, sau đó mới phẫu thuật triệt để).
Mục tiêu ngoại khoa đối với bệnh phình đại tràng bẩm sinh là cắt bỏ hoàn toàn đoạn ruột vô hạch, sau đó kéo đoạn ruột có hạch thần kinh bình thường xuống nối với ống hậu môn, đồng thời bảo tồn chức năng cơ thắt hậu môn. Các phương pháp kinh điển bao gồm:
Hiện nay, các kỹ thuật trên đã được cải tiến và linh hoạt kết hợp với nội soi ổ bụng, phẫu thuật mổ mở hoặc tiếp cận hoàn toàn qua đường hậu môn (đối với bệnh mà đoạn vô hạch khu trú ở trực tràng - đại tràng sigma).
Trong quá trình mổ, xét nghiệm mô bệnh học cắt lạnh được thực hiện liên tục để xác định chính xác vùng chuyển tiếp, đảm bảo miệng nối được thực hiện trên tổ chức ruột có hạch thần kinh bình thường.
Các biến chứng tiềm ẩn sau phẫu thuật bao gồm:
Đặc biệt, cha mẹ cần được cảnh báo rằng bệnh nhi vẫn có nguy cơ phát triển viêm ruột, viêm đại tràng sau khi đã phẫu thuật thành công. Các triệu chứng đôi khi chỉ là nôn mửa và tiêu chảy. Điều trị viêm ruột đòi hỏi nhịn ăn, thụt rửa trực tràng và sử dụng kháng sinh phổ rộng (bao phủ vi khuẩn kỵ khí).
Hầu hết bệnh nhân có chức năng đại tiện bình thường sẽ phục hồi tốt. Triệu chứng són phân (soiling) có thể xảy ra nhưng thường tự thuyên giảm khi trẻ đạt 5 tuổi. Són phân kéo dài thường gặp ở bệnh nhân có đoạn ruột tổn thương dài hoặc mắc hội chứng Down. Bệnh nhân có kèm dị tật tim bẩm sinh hoặc hội chứng giảm thông khí trung ương bẩm sinh thường có tiên lượng kém hơn.
Bệnh nhân mắc bệnh Hirschsprung cần được theo dõi định kỳ bởi bác sĩ phẫu thuật nhi khoa hàng năm để đánh giá chức năng ruột cho đến khi trẻ có khả năng tự kiểm soát đại tiện.
Cần đánh giá y tế khẩn cấp nếu bệnh nhân (cả trước và sau phẫu thuật) xuất hiện các triệu chứng:
✍️ Tác giả: BS. Trần Đức Tâm - Khoa Ngoại tổng hợp, Bệnh viện Nhi
Tham vấn y khoa: Phẫu thuật Nhi khoa
Tác giả: BS. Trần Đức Tâm - chuyên khoa ngoại nhi
Những tin cũ hơn
Các phẫu thuật viên nhi khoa có nhiệm vụ khám, phát hiện và điều trị các bệnh lý cần phải phẫu thuật cho đối tượng trẻ em. Website mong muốn cung cấp một phần nhỏ kiến thức vê lĩnh vực ngoại nhi cho bố mẹ và người chăm sóc trẻ, cũng như góp thêm ý kiến cho các nhân viên y tế thuộc chuyên ngành khác....