Tóm tắt thông tin: Thoát vị bẹn và tràn dịch màng tinh hoàn ở trẻ em chủ yếu xuất phát từ sự tồn tại của ống phúc mạc bẩm sinh. Bệnh biểu hiện bằng một khối lồi ở vùng bẹn, bìu hoặc môi lớn, có thể thay đổi kích thước theo áp lực ổ bụng. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào khám lâm sàng. Phẫu thuật thắt cao túi thoát vị được chỉ định bắt buộc đối với thoát vị bẹn nhằm ngăn ngừa biến chứng nghẹt tạng, trong khi tràn dịch màng tinh hoàn không thông thường có thể tự khỏi mà không cần can thiệp.

Sự thất bại trong việc bít tắc ống phúc mạc là nguyên nhân cơ bản gây ra thoát vị bẹn gián tiếp ở trẻ em. Tùy thuộc vào mức độ bít tắc, tình trạng này được phân loại thành các dạng sau:
Tỷ lệ mắc thoát vị bẹn gián tiếp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dao động từ 1% đến 5%. Trẻ sinh non có nguy cơ mắc bệnh cao hơn rõ rệt (khoảng 2% ở nữ và 7-30% ở nam). Các yếu tố nguy cơ bao gồm:
Khối sưng ở vùng bẹn là triệu chứng phổ biến nhất. Khối này có thể lan xuống bìu ở nam hoặc môi lớn ở nữ. Khối thoát vị thường phình to hơn khi trẻ khóc, rặn (tăng áp lực ổ bụng) và tự xẹp xuống khi trẻ ngủ. Phân bố vị trí thoát vị thường là: 60% ở bên phải, 30% ở bên trái và 10% bị cả hai bên.
Trong trường hợp có biến chứng nghẹt (khối thoát vị không thể đẩy trở lại ổ bụng) hoặc thắt nghẹt (mất nguồn máu nuôi dẫn đến tắc ruột), trẻ sẽ có các biểu hiện cấp tính như đau bụng, chướng bụng và nôn.
| Phương pháp chẩn đoán | Đặc điểm và ứng dụng |
|---|---|
| Chẩn đoán phân biệt | Cần phân biệt thoát vị bẹn với viêm tinh hoàn, xoắn phần phụ tinh hoàn, xoắn tinh hoàn và hạch bẹn phì đại. |
| Siêu âm | Sử dụng để phân biệt giữa tràn dịch màng tinh hoàn và thoát vị bẹn, hoặc giữa thoát vị nghẹt và hạch bẹn phì đại. |
| X-quang bụng | Thực hiện trong trường hợp nghi ngờ thoát vị nghẹt, có thể thấy hình ảnh quai ruột giãn hoặc có khí trong túi thoát vị ở phía ngoài và dưới dây chằng bẹn. |
Thoát vị bẹn ở trẻ em không có khả năng tự khỏi và cần phải phẫu thuật để phòng ngừa biến chứng nghẹt. Ngược lại, tràn dịch màng tinh hoàn không thông có thể tự khỏi, phẫu thuật chỉ được đặt ra nếu tình trạng này kéo dài qua một tuổi. Tràn dịch màng tinh hoàn thông được điều trị với phác đồ phẫu thuật tương tự như thoát vị bẹn.
Phẫu thuật được lên kế hoạch chủ động đối với thoát vị bẹn có thể lên xuống được mà chưa bị nghẹt. Phẫu thuật cấp cứu được thực hiện khi có nghi ngờ thoát vị nghẹt. Quá trình phẫu thuật có thể là mổ mở hoặc nội soi. Mục đích của thủ thuật là bóc tách ống phúc mạc (bao thoát vị) và thắt cao ở vị trí cổ bao thoát vị.
Rủi ro phẫu thuật bao gồm: chảy máu, nhiễm trùng, biến chứng do gây mê, tổn thương mạch máu tinh hoàn hoặc ống dẫn tinh, và teo tinh hoàn. Tỷ lệ tái phát thoát vị sau phẫu thuật dao động từ 1% đến 5%.
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thường không cần hạn chế hoạt động sau phẫu thuật. Có thể đau một chút, thường sử dụng paracetamol hoặc các thuốc chống viêm không steroid trong vài ngày đầu. Trẻ lớn hơn có thể cần đến một liều nhỏ thuốc giảm đau mạnh hơn.
Cần hội chẩn với BS Chuyên khoa Ngoại nhi chuyên sâu trong các tình huống sau:

Tác giả: BS. Trần Đức Tâm - chuyên khoa ngoại nhi
Các phẫu thuật viên nhi khoa có nhiệm vụ khám, phát hiện và điều trị các bệnh lý cần phải phẫu thuật cho đối tượng trẻ em. Website mong muốn cung cấp một phần nhỏ kiến thức vê lĩnh vực ngoại nhi cho bố mẹ và người chăm sóc trẻ, cũng như góp thêm ý kiến cho các nhân viên y tế thuộc chuyên ngành khác....