U nang ống giáp lưỡi (Nang giáp móng)

Thứ sáu - 28/08/2026 11:30
Nang giáp móng là tổn thương dạng nang bẩm sinh vùng cổ thường gặp nhất ở trẻ em, ước tính xuất hiện ở khoảng 7% dân số. Với bất kì khối u nang hoặc áp xe vùng cổ nào, ở cả người lớn và trẻ em, cần nghĩ đến nang giáp móng để có thái độ điều trị thích hợp.
Nang giáp móng ở trẻ em
Nang giáp móng ở trẻ em

Phôi thai học và cơ chế bệnh sinh

Trong thời kỳ phôi thai, tuyến giáp hình thành từ lỗ tịt ở đáy lưỡi và di chuyển xuống vị trí giải phẫu bình thường ở vùng cổ trước dưới. Khi đường di chuyển này (ống giáp lưỡi) không thoái hóa và tiêu biến hoàn toàn, biểu mô sót lại sẽ tiết dịch tạo thành u nang ống giáp lưỡi.

Đặc điểm lâm sàng

  • Vị trí: Khối thường nằm ở đường giữa cổ, ngang mức dưới hoặc trên xương móng, đôi khi xuất hiện sát hõm trên xương ức. Khoảng 40% trường hợp khối nằm lệch nhẹ sang một bên so với đường giữa.
  • Độ tuổi: Phần lớn bệnh nhân biểu hiện triệu chứng trong 5 năm đầu đời.
  • Triệu chứng: Nang thường tiến triển âm thầm, không đau. Khoảng 25% trường hợp biểu hiện đầu tiên bằng tình trạng nhiễm trùng thứ phát hoặc hình thành lỗ rò chảy dịch/mủ ra da hoặc vào khoang miệng gây cảm giác khó chịu. Khi có viêm nhiễm, khối sưng nhanh, nóng, đỏ và đau.
  • Thăm khám thực thể: Khối tròn, ranh giới rõ, mật độ căng hoặc mềm, đặc trưng bởi tính chất di động lên trên theo nhịp nuốt và khi thè lưỡi do dính chặt vào xương móng và mạc đáy lưỡi.

Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán hình ảnh

Siêu âm vùng cổ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh ban đầu. Khảo sát cần bao quát toàn bộ vùng cổ thay vì chỉ tập trung vào vị trí khối u:

  • Đánh giá cấu trúc dạng nang, tính chất dịch và thành nang.
  • Xác định sự hiện diện của mô tuyến giáp bình thường tại hố giáp nhằm loại trừ khả năng khối ở đường giữa là mô tuyến giáp lạc chỗ duy nhất có chức năng của bệnh nhân.

Chỉ định phẫu thuật và chuẩn bị trước mổ

Sự hiện diện của nang ống giáp lưỡi là chỉ định can thiệp ngoại khoa nhằm loại bỏ nguy cơ nhiễm trùng tái diễn và phòng ngừa thoái hóa ác tính (ghi nhận ở khoảng 1% trường hợp, chủ yếu là ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú phát sinh từ mô giáp lạc chỗ trong thành nang).

Quy trình chuẩn bị:

  • Xét nghiệm cơ bản: Không cần thực hiện các thăm dò xâm lấn nếu lâm sàng điển hình. Xét nghiệm chức năng tuyến giáp (TSH, FT4) được chỉ định khi nghi ngờ suy giáp hoặc nghi ngờ tuyến giáp lạc chỗ, đặc biệt ở trẻ sơ sinh và nhũ nhi.
  • Xử trí nhiễm trùng cấp: Nếu nang đang viêm mủ, ưu tiên điều trị kháng sinh toàn thân, có thể kết hợp chọc hút hoặc rạch dẫn lưu tối thiểu nếu hình thành ổ áp xe. Phẫu thuật cắt bỏ triệt căn chỉ thực hiện sau khi tình trạng nhiễm trùng tại chỗ đã thoái lui hoàn toàn.

Kỹ thuật phẫu thuật (Phẫu thuật Sistrunk)

Phẫu thuật Sistrunk là phương pháp điều trị tiêu chuẩn:

  1. Tư thế: Bệnh nhân nằm ngửa, kê gối dưới vai để cổ ưỡn tối đa.
  2. Đường mổ: Rạch da theo nếp lằn cổ ngang qua vị trí nang.
  3. Phẫu tích: Bộc lộ vỏ nang, bóc tách giải phóng khối nang lên phía trên đến bờ dưới xương móng.
  4. Cắt xương móng: Cắt bỏ đoạn trung tâm thân xương móng (khoảng 1 cm mỗi bên tính từ đường giữa) dính liền với khối nang.
  5. Xử lý cuống nang: Phía trên xương móng, không bóc tách bộc lộ đơn độc ống dẫn vì cấu trúc này thường phân nhánh; phẫu thuật viên cắt trọn một khối mô cơ đáy lưỡi hình nón bao quanh đường rò hướng về phía lỗ tịt.
  6. Thắt đường rò: Thắt và cắt đường rò sát niêm mạc đáy lưỡi bằng chỉ tự tiêu. Bác sĩ gây mê có thể dùng ngón tay đẩy nhẹ gốc lưỡi từ trong khoang miệng ra trước để hỗ trợ phẫu trường bộc lộ rõ hơn.

Biến chứng

  • Chảy máu, tụ máu vùng cổ, nhiễm trùng vết mổ.
  • Tổn thương cấu trúc lân cận (dây thần kinh hạ thiệt, thanh quản).
  • Tái phát: Tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật Sistrunk khoảng 10%. Nguy cơ tăng lên khi:
    • Không cắt bỏ đoạn trung tâm thân xương móng.
    • Làm vỡ nang trong quá trình mổ.
    • Phẫu thuật khi đang có nhiễm trùng cấp tính.
    • Nang có nhiều thùy hoặc giải phẫu phức tạp.
    • Phẫu thuật lại sau mổ tái phát.

Tiên lượng và chăm sóc hậu phẫu

Tiên lượng sau mổ tốt, hầu hết bệnh nhân hồi phục hoàn toàn nếu không xảy ra biến chứng nhiễm trùng hoặc rò vết mổ.

Tác giả: BS. Trần Đức Tâm - chuyên khoa ngoại nhi

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bình luận

Ngoại nhi - chuyên ngành phẫu thuật cho trẻ em

Các phẫu thuật viên nhi khoa có nhiệm vụ khám, phát hiện và điều trị các bệnh lý cần phải phẫu thuật cho đối tượng trẻ em. Website mong muốn cung cấp một phần nhỏ kiến thức vê lĩnh vực ngoại nhi cho bố mẹ và người chăm sóc trẻ, cũng như góp thêm ý kiến cho các nhân viên y tế thuộc chuyên ngành khác....

Thống kê
  • Đang truy cập111
  • Máy chủ tìm kiếm5
  • Khách viếng thăm106
  • Hôm nay12,044
  • Tháng hiện tại831,725
  • Tổng lượt truy cập15,685,622
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây